Tin tức
  • Điện lực Việt Nam trong những năm tới
    Điện lực Việt Nam trong những năm tới
    13/12/2013

    Với nhiệm vụ quan trọng là cung cấp năng lượng điện cho mọi hoạt động kinh tế – xã hội của đất nước, những năm vừa qua ngành điện đã có những bước phát triển nhanh và đạt được những thành tích khá ngoạn mục. Tổng công suất lắp đặt các nhà máy điện đến năm 2010 khoảng trên 20.000MW, tăng gấp 3,2 lần so với 10 năm trước, sản lượng điện sản xuất ước đạt khoảng trên 100 tỷ kWh, gấp trên 3,7 lần năm 2000 và 1,88 lần so với 2005. Đến cuối 2009 hệ thống lưới điện đã có trên 3.400km đường dây và 11 trạm 500kV với tổng dung lượng 7.500MVA, lưới 220kV có gần 8.500km với dung lượng các máy biến áp 19.000MVA. Lưới điện 110kV và lưới trung, hạ thế đã bao phủ 98% các huyện, 97,9% các xã. Tính chung cả nước có 96% số hộ được cấp điện từ lưới quốc gia.

    Với mức tăng trưởng nhanh như vậy, ngành điện đã liên tục đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, những nhược điểm và những bất cập gần đây của ngành điện nói chung thể hiện trên một số mặt cụ thể sau:
    – Việc xây dựng nhiều nhà máy điện và lưới điện rất chậm so với kế hoạch. Tổng công suất các nhà máy đưa vào cũng như khối lượng lưới truyền tải xây dựng chỉ đạt trên dưới 70% so với kế hoạch. Nguyên nhân quan trọng nhất là thiếu vốn đầu tư và còn hàng loạt các nguyên nhân khác như: quá nhiền dự án nguồn được phép triển khai đồng loạt, dẫn đến thiếu nguồn nhân lực quản lý và xây dựng dự án, thiếu máy móc thiết bị thi công, năng lực nhà thầu yếu kém, giá cả thiết bị tăng đột biến… Mặt khác, các địa phương và người dân tại các vùng dự án chưa phối hợp đồng bộ trong việc giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư. Vì vậy mà mấy năm qua vào mùa nắng nóng và khô hạn luôn xảy ra tình trạng thiếu điện, ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Việc nguồn, lưới điện không đảm bảo tiến độ thi công vẫn chưa có chế tài đủ sức băt buộc mang tính quy kêt trách nhiệm đối với các chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng, kể cả phía quản lý…
    – Yêu cầu vốn đầu tư cho xây dựng nguồn và lưới điện ngày càng lớn, trong khi giá điện hiện hành không đảm bảo đủ chi phí đầu vào, nếu tính trượt giá thì hầu như không tăng, gây khó khăn lớn cho EVN khi thiếu vốn đầu tư mở rộng – nâng cấp hệ thống điện và làm nản lòng nhiều nhà đầu tư tham gia vào phát triển nguồn điện. Cũng do thiếu vốn đầu tư mà ta phải lựa chọn các nhà thầu có gói thiết bị giá rẻ hơn, kéo theo việc các công trình nguồn điện sau khi hoàn thành xây dựng đã vận hành không ổn định, hỏng hóc kéo dài.

    – Khu vực miền Nam có nhu cầu phụ tải điện chiếm tỷ trọng khoảng 50% toàn quốc. Do việc khai thác cung cấp nguồn khí đốt ngoài khơi cho sản xuất điện hạn chế, khu vực miền Nam cần phải xây dựng các nhà máy nhiệt điện chạy than. Với điều kiện địa hình không thuận lợi, khoảng cách vận chuyển than xa hàng ngàn cây số và chưa nhập khẩu được than nên hầu hết các công trình NMNĐ than ở miền Nam chậm nhiều so với kế hoạch, dẫn đến nguy cơ thiếu điện cao trong vài năm tới, trong khi phụ tải điện vẫn không ngừng tăng. – Việc đầu tư phát triển sản xuất các thiết bị điện trong nước chưa theo kịp nhu cầu, dẫn đến Việt nam phụ thuộc nhiều vào thiết bị nhập ngoại. Hầu hết thiết bị nhà máy điện, các thiết bị bảo vệ lưới, cách điện cao áp… đếu phải nhập bằng ngoại tệ.

    – Về phía hộ sử dụng điện, ý thức tiết kiệm và sử dụng điện hiệu quả của đại bộ phận xã hội còn kém. Giá điện ở nước ta thấp so với mặt bằng giá khu vực nên nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã triển khai xây dựng hàng loạt các

    nhà máy công nghiệp sản xuất thép, xi măng, vượt cả mức chỉ tiêu kế hoạch ngành trong 10 năm tới, gây khó khăn thêm trong cung cấp điện.

Tin tức khác